Bình giảng bài thơ Tống biệt hành

Bình giảng bài thơ Tống biệt hành

Bình giảng bài thơ Tống biệt hành. . Đời người và đời thơ của Thâm Tâm đều ngắn ngủi. Ngày 18. 8. 1950, nhà thơ mất trên đường hành quân tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng. Năm ấy, ông mới ba mươi tuổi. Còn nếu tính từ năm 1938, khi Thâm Tâm cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ tranh, viết văn, làm thơ thì “tuổi nghề” của ông vỏn vẹn chỉ 12 năm.

Đã thế, Thâm Tâm làm thơ ít, số bài thơ bây giờ tập hợp được chỉ độ vài ba chục. Nhưng thơ Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi. Đây là không kể chuyện Thâm Tâm với các bài thơ về hoa ti gôn, màu hoa như tím vỡ, mọc vô vàn trên các bờ giậu nhưng khi có thơ, loài hoa ấy ai cũng phải ngắm nhìn một cách đặc biệt.

Tống biệt hành là bài thơ đặc sắc nhất của Thâm Tâm, , cũng là bài thơ Mới có nhiều ý kiến, bình giá khác nhau nhất và cơ hồ chưa phải đã kết thúc.

Bài thơ được sáng tác vào năm 1940, không biết đích xác là ngày nào. Năm sau, được đưa vào tuyển thơ Thi nhân Việt Nam, với lời bình của Hoài Thanh:

Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

Ý kiến của Hoài Thanh thật xác đáng:Tống biệt hành vừa giống thơ cổ vừa không phải thơ cổ đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Đó cũng là lí do khiến từ bấy đến nay có biết bao ý kiến khác nhau về Tống biệt hành mà khổ nỗi lại là ý kiến của những người uyên thâm, hoặc có quan hệ gần gũi với tác giả.

Tên bài thơ không có gì là khó hiểu, rõ ràng đằng khác: tiễn đưa nhau khi li biệt. Chỗ dễ gây khó hiểu duy nhất ở đây là chữ hành. Hành vừa có nghĩa là đi, dời đi, lại có nghĩa là khúc hát, bài ca. Bởi vậy, khi dịch nghĩa tên một số bài thơ Đường, người ta thường giữ nguyên chữ ấy như Trường Can hành (Thôi Hiệu), Lũng Tây hành (Trần Đào)… mặc dù Trường Can, Lũng Tây đều là địa danh. Xa hơn nữa, , người ta thấy, , hành là thể thơ vốn thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ, , Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ, , tức những bài thơ có thể phổ nhạc, , nhưng chỉ để dùng trong cung cấm. Do đó, Trường Can hành là một khúc Nhạc phủ, , song cũng là tên một bài thơ của Đỗ Phủ. . Nội dung hai bài hoàn toàn khác nhau. Khi thoát khỏi cung cấm, thể thơ hành trở nên phóng túng về hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết. . Các bài thơ hành đời Đường viết về nhiều đề tài : tình yêu nam nữ, , về chiến tranh, , loạn lạc, , chia li… Thời Đương, , các bài thơ hành thường viết theo thể thất ngôn (Tì bà hành – Bạch Cư Dị, Trương Can hành – Lí Bạch), hoặc ngũ ngôn (Trường Can hành –Thôi Hiệu), nhưng cũng có trường hợp dài, , ngắn tuỳ ý (Binh xa hành – Đỗ Phủ).

Sau đời Đường, trong văn học các nước phương Đông, thơ hành không thiếu. Ở Việt Nam, có bài khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du. Tuy nhiên, nhìn chung, , số lượng vẫn khá ít ối với những bài thơ khác. Bẵng đi thời gian khá dài, , ở nước ta những năm cuối của phong trào Thơ mới bỗng xuất hiện nhiều bài hành của các nhà thơ Thâm Tâm (Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành). Nhiều bài thơ của các ông dù không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu. Cả ba vốn là bạn bè thân thiết nên có người gọi đây là trường phái thơ hành, bên cạnh các trường phái thơ Loạn, thơ Say, thơ Đạo …thời ấy.

Sau năm 1954, ở miền Nam, cũng có một vài nhà thơ trẻ làm thơ hành như Hoàng Lộc, Duynh Trầm Ca… Thơ của họ, tuy nội dung có khác, nhưng gần gũi với các bậc “tiền bối” ở cái giọng kiêu bạc, khinh đời:

– Chẳng lẽ giận đời đi uống rượu
Mà say chưa chắc đã quên đời
Và chưa chắc ấm sầu xa xứ
Đỏ mặt hoàng hôn cũng hổ người
(Hoàng Lộc)

Rượu cuối năm gió lọt lòng ly
Vọng tiếng hú ma Hời buồn quê cũ
Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ
Giao thừa giao thừa hề ta lăn quay
Rượu hết làm sao chết giữa cơn say…
(Đuynh Trầm Ca)

Nói mông lung như vậy đẻ thấy không thể đơn giản khẳng định Tống biệt hành của Thâm Tâm là bài thơ theo thể hành thời trước, bởi nào ai chỉ ra thi pháp của thể thơ ấy như kiểu thơ luật Đường hay văn biền ngẫu …Có giống chãng chỉ là nhà thơ mượn chữ hành thường tỏ ra khá phóng túng, như muốn nói cho bằng hết ý mình, mà đó thường là những điều khó nói, khó được chấp nhận. Ví như bài Lũng Tây hành của Trần Đào là một mặt trái của chuyện đời:

Quên mình, thề giết Hung Nô
Năm ngoái tướng sĩ bụi Hồ vùi thân.
Bên sông Vô Định xương tàn,
Vẫn người trong giấc mộng xuân khuê phòng.
(Trần Trọng San dịch)

Hay Nguyễn Bính, nhà thơ đồng quê nhưng với Hành phương Nam lại tỏ ra khá ngang tàng, kiêu bạc:

Rãy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt
Giữa chợ ai khóc mà nhân thay

Rõ ràng, thơ hành của Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân là thơ hành của chính các ông, những nhà thơ Mới bởi vậy mới đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

Chuyện Tống Biệt

Tống biệt là chuyện muôn thuở, , đề tài quen thuộc của văn chương. Nhưng với Thâm Tâm, chuyện tống biệt chừng như khác. . Đấy không phải là chuyện Lưu Trần và Nguyễn Triệu rời Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa tiễn ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ). Cũng không phải là sự ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục, Hiền thánh còn đâu học cũng hoài ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương ), hay ra đi mà lòng hẹn quyết : Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi nan…Non sông ấy chờ ta thêu đặc dệt. Kìa tụ tán chẳng qua là tiêu biểu ( Huỳnh Thúc Kháng-Bài ca lưu biệt ). Người ra đi ở tống biệt hành có phần gần gũi với khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thế Lữ:

Ta đi theo đuổi bước tương lai,
Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi
Chí nặng bốn phương trời nước rộng,
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.

Những chỉ gần mà không giống. Cách nhau độ năm, mười năm mà đã thế.

Bình giảng bài thơ Tống biệt hành
5 (100%) 1 vote