Cảm nhận về bài thơ Vội vàng – Xuân Diệu

Trong thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh coi “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ Mới”. Với những sáng tác của mình, Xuân Diệu không chỉ đem đến cho thơ ca dân tộc nghệ thuật thể hiện, kĩ thuật viết thơ đặc sắc mà cả trên nội dung tư tưởng cũng có những khám phá độc đáo. Nhận xét về “Vội vàng”- một trong số những bài thơ thể hiện rõ nhất phong cách Xuân Diệu, có ý kiến cho rằng “Vội vàng là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời yêu sống cuồng nhiệt. Đằng sau những cảm xúc ấy là quan niệm nhân sinh chưa từng thấy”.

Hồn thơ Xuân Diệu đắm đuối trước cuộc đời, ao ước sống trọn vẹn từng ngày có thể, tất cả đều được gửi gắm vào thơ. “Vội vàng” tiêu biểu nhất cho những cách tân của thơ ông từ cách thể hiện cảm xúc cuồng nhiệt cho đến nhận thức sâu sắc về thời gian, đời người. Bài thơ góp phần quan trọng vào sự phát triển của phong trào thơ Mới, phát huy cao độ sức mạnh của cái “tôi” để làm vận động một tứ thơ khỏe khoắn, tiếp thu và sử dụng sáng tạo ngôn ngữ thơ ca Tiếng Việt. Thật khó nói hết cảm giác mới mẻ khi đọc thơ Xuân Diệu, nhất là ý nghĩa to lớn của “Vội vàng” vào thời điểm nó ra đời. Thế nhưng, có thể khẳng định rằng đây là một thi phẩm thật sự có giá trị, nó dẫn người đọc say mê bước vào thế giới của “tâm hồn yêu đời yêu sống cuồng nhiệt”, nó sâu lắng thiết tha với “quan niệm nhân sinh chưa từng thấy”. Những điều đó tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của bài thơ.

Trước hết, thi phẩm sâu lắng đầy chất thơ bởi niềm say mê giao cảm mãnh liệt với cuộc đời. Điều đó được thể hiện qua khao khát níu kéo, giữ gìn vẻ đẹp của thiên nhiên trời đất. Bài thơ mở đầu bằng bốn câu ngắn, cách diễn đạt rất đơn giản, rõ ràng. Mỗi câu thơ được viết ra là một gợi mở về vẻ đẹp tâm hồn nhân vật trữ tình:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Ở đây thế giới phản chiếu trong suy nghĩ của “tôi” gồm hai phần, một là cái đẹp, có màu và hương, một là nắng gió, góp thêm phần rực rỡ, nhưng lại có thể làm phai tàn cái đẹp. Đó là một quy luật bất biến của thiên nhiên tạo vật. Xuân Diệu nhận ra điều đó, nhận ra cả sự tàn phai tất yếu của hương sắc mà ông hằng trân trọng, ngợi ca. Bởi thế cho nên, khao khát “tắt nắng buộc gió” vừa mãnh liệt vừa yếu đuối bất lực. Điệp từ “cho” và “đừng” dồn nén cảm xúc, ngân dài ra giọng điệu thiết tha của dòng thơ. Câu thứ tư toàn thanh bằng nhẹ nhàng bay bổng nhưng diễn tả sự nuối tiếc ngậm ngùi. Ta thấy tâm hồn đa sầu đa cảm của thi nhân dường như đang nhìn đời bằng con mắt xót xa khi nhận ra mọi thứ đều có thể “nhạt mất” và “bay đi”. Khổ thơ thể hiện ý tưởng, chủ đề của toàn bài. Muốn giữ lại vẻ đẹp là bởi vì yêu cái đẹp, vì thật sự thiết tha một cuộc sống với đầy đủ hương vị của nó. Hãy xem nhà thơ đã yêu đời đến thế nào:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây gió của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Đó là những gì mà cuộc đời bày ra ngập tràn trước mắt thi nhân: cả một bữa tiệc hội ngộ của nhân gian, một thiên đường xốn xang niềm vui tái hợp. Cách dùng điệp từ “của” và “này đây” bốn lần rất đặc biệt. Các câu thơ tự nó tách ra làm hai vế, một vế có “ong bướm”, “đồng nội xanh rì”, “cành tơ phơ phất”, “yến anh”, nguyên vẹn tròn đầy như thế, được gắn với từ “của”, tức vế kia bao gồm những gì thuộc về nó, làm cho nó đẹp hơn. Cuộc sống ban cho cảnh vật những khoảnh khắc không thể quên: hoa trên đồng nội xanh rì mộc mạc dịu dàng, cành tơ bâng khuâng đung đưa trước gió. Nhưng ý thơ không dừng lại ở đấy. Người đọc sẽ nhận ra điều gì khiến cho Xuân Diệu vẫn được gọi là “Ông hoàng của thơ tình”. Đấy là tình yêu, tình yêu trải rộng trên từng tứ thơ: “tuần tháng mật” tình tứ cho ong bướm và “khúc tình si” đắm đuối của yến anh. Thi sĩ ẩn hiện một nụ cười hồn hậu sau mỗi câu thơ này: ông ghép mọi thứ thành có đôi có cặp, mà cặp đôi ấy lại không thể tách rời nhau. Cũng không phải ngẫu nhiên mà cấu trúc “Của… Này đây” được hoán đổi vị trí ở mỗi câu thơ như vậy. Cái gì đã thành đôi thì được cho thời gian và tình yêu, cái gì tách biệt thì đặt về đúng vị trí. Thơ Xuân Diệu mới lạ ở chỗ ông nhìn ra cuộc đời trong trạng thái rực rỡ và sung mãn nhất. Cuộc sống vốn kì diệu và đẹp đẽ song không phải ai cũng có thể cảm nhận sâu sắc như ông. Và rồi ta lại được quay trở về với cái tôi thi sĩ:
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Tôi sung sướng, nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân
Thêm một từ “này đây” nữa cho chính nhà thơ. Lần này, sau “này đây” là những câu thơ dồn dập reo vui. “ánh sáng chớp hàng mi”, “thần Vui hằng gõ cửa”, “ngon”, đó hình ảnh, từ ngữ để miêu tả thế giới thần tiên, đẹp ngây ngất, nhưng vẹn toàn hơn muôn phần bởi niềm vui trần thế. Câu thơ cũng bay bổng thoát li song vẫn khiến người đọc cảm thông, xúc động là bởi sự chân thành trong cảm xúc. Tính từ “Sung sướng”, “vội vàng” trực tiếp nói về niềm vui náo nức, cuồng nhiệt của thi nhân. Vào lúc đó, một tuyên ngôn sống đã được khẳng định: vội vàng. Mùa xuân đẹp nhất trên đời vẫn còn đó, và tâm trạng nhân vật trữ tình được diễn tả rất thật:
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Ngôn ngữ thơ âu yếm, giục giã, câu thơ dài liền mạch nhưng khẩn trương, nhịp nhàng, như thể ào ra bao nhiêu tâm sự còn lắng đọng trong lòng. “mới”, “riết”, “say”, “thâu” nhấn mạnh ở giữa câu, từng đợt sóng tình cảm cứ xô mạnh, rồi tỏa ra mênh mông. Dư vị lan ra trong lòng người đọc là cảm giác say mê đắm đuối trong dòng tâm trạng của thi sĩ. Hoài Thanh trong “Ý nghĩa văn chương” có viết rằng: “Có kẻ nói từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ trông mới đẹp, từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay.” Thơ Xuân Diệu đúng như thế. Vẫn là cảnh ấy, tình ấy, mà sao qua thơ ông nó lại ánh lên màu sắc huy hoàng rực rỡ. Qua cảm nhận tinh tế “chếnh choáng mùi hương, đã đầy ánh sáng”, qua khao khát vô cùng muốn tận hưởng trọn vẹn hạnh phút trần gian, người đọc bỗng nhận ra rằng cuộc đời vẫn đẹp thế, vẫn tràn ngập sức sống của niềm tin và hy vọng. Với Xuân Diệu, sống là cả một hạnh phúc lớn lao, và quả thật ông đã say mê tận hưởng và cảm nhận cuộc sống đó.

Thơ Xuân Diệu không chỉ thể hiện niềm vui sống, mà nó còn mang những “quan niệm nhân sinh chưa từng thấy”. Trong vẻ đẹp của trần gian, ông coi con người là trung tâm, con người hưởng thụ cuộc đời và luôn đẹp nhất. Đó là lí do mà những câu sáng tạo nhất, hay nhất bài đều là một so sánh về vẻ đẹp thiên thần của con người:
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Rồi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi.
Nếu như trước kia, các nhà thơ lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp để ví con người với thiên nhiên thì giờ đây, Xuân Diệu đưa vẻ đẹp của con người vào thơ để khắc họa rõ nét thiên nhiên. Vì thế mà thiên nhiên ngập tràn hồn người tình người, sống động, gần gũi. Cả hai lần nhà thơ đều sử dụng lối nói ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, tức là, sử dụng tối đa tất cả các giác quan để thấy được cuộc sống ở nhiều góc độ. Các nhà thơ xưa chỉ cảm nhận thiên nhiên ở bề ngoài, ở quy luật vốn có của nó, Xuân Diệu nay lại lấy lòng mình ra để gán vào thiên nhiên. Điều đó không giống như bút pháp tả cảnh ngụ tình của thơ Trung đại, bởi một đằng là tình người ẩn đằng sau thiên nhiên, Xuân Diệu thì biến thiên nhiên thành một sinh thể sống riêng, chứa trong nó đầy đủ nhịp thở, nhịp sống của con người. Thi nhân gọi mùa xuân là “hỡi xuân hồng”, khao khát giao cảm với thiên nhiên là “ta muốn cắn vào ngươi”, là cách diễn tả tưởng như vụng về, vồ vập, nhưng chứa đựng khát vọng vô cùng bởi vì chẳng còn cách nào có khả năng thể hiện đầy đủ hơn niềm vui sướng vô tận của ông. Cảnh vật mang hình bóng tươi trẻ của người đẹp, lối nghĩ đó mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Thả hồn theo từng con chữ, thi nhân cũng nhận ra quy luật khắc nghiệt của thời gian, nguyên nhân thôi thúc người sống vội, sống gấp:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi
Xuân của đất trời là khoảnh khắc viên mãn, khi lá hoa đua sắc, vạn vật tốt tươi, xuân của lòng người là thời trẻ sôi nổi đầy khát vọng hoài bão. Hai mùa xuân ấy song hành bên nhau, song cũng báo trước một tương lai, cùng “hết” và “mất”. Cũng đúng khi ông gắn xuân với nhan sắc, xuân qua, nhan sắc không còn, quan niệm có phần bồng bột nhưng có lí riêng của nó. Sự đối lập giữa lòng người rộng mở và “lượng trời cứ chật” trong lí lẽ của nhà thơ thật khéo léo. Ông dành phần đúng cho mình, đặt cái lẽ của lòng người lên trên tất cả. Phản bác lại sự tuần hoàn của vũ trụ, tạo vật không phải là phủ nhận cái đẹp của thiên nhiên mà bởi ý thức về giá trị sự sống, quyền sống của cá nhân mình. “Chẳng còn tôi mãi”, thời gian của tôi là tuyến tính, biện chứng, thì mùa xuân kia có quay vòng tôi cũng chẳng thể nào sống nữa mà hưởng thụ. “Không ai đứng hai lần trên cùng một dòng sông”, một khoảnh khắc trôi đi là mãi mãi không trở lại:
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than mầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ tàn phai sắp sửa
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa
Mặc cảm về đời người ngắn ngủi, mỗi phút trôi qua là mỗi phút chia tay với một phần của cuộc sống đè nặng trĩu. Tâm sự ấy góp vào nỗi buồn chung của thơ Mới thêm một cung bậc nữa. Ta từng choáng ngợp trong vần thơ nuối đời, níu đời của Hàn Mặc Tử, nay lại hiểu hơn tâm niệm của một con người hết mình trong cuộc sống. Thi nhân tự đặt ra cho mình một quan niệm về thời gian, rồi tự thế mà gấp gáp, vội vàng, đó là cách nghĩ, cách sống tích cực lành mạnh, tận hưởng và tận hiến để góp thêm hương sắc cho đời.

Bài thơ dài trong thể hiện cảm xúc nhưng cách dùng từ chắt lọc tái hiện một cách sinh động những quan niệm, triết lí sâu sắc. Thơ Xuân Diệu phản ánh rõ nét cá tính riêng biệt của ông, con người thì sống trọn vẹn từng phút giây, còn thơ thì trau chuốt từng câu từng từ để phô diễn cái đẹp, khắc họa tinh tế mọi xao động của tâm hồn. Suy nghĩ liền mạch, quan điểm nhất quán, “Vội vàng” là vần thơ hay, kết tinh phẩm chất đáng quý của Xuân Diệu, đúng như quan niệm của Nguyễn Đình Thi: “Những nghệ sĩ lớn đem tới được cho cả thời đại họ một cách sống của tâm hồn”…

Bài này đã được đăng trong Cảm thụ Văn học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.