Soạn bài Hầu trời của Tản Đà

Soạn bài: Hầu Trời
1. Phân tích khổ thơ đầu.
- Tác giả đặt vấn đề: câu chuyện tôi sắp kể “chẳng biết có hay không chắc chănsex có ý kiến chỏằng đó là mơ hồ nhưng tác giả khẳng định lại: trạng thái của bản thân rất bình thường “chẳng hoảng hốt, không mơ màng” và câu chuyện có vẻ có thật”.
“Thật hồn! thật phách! Thật thân thể.
Thật được làm tiên sướng lạ lùng”.
Điệp từ “thật”, dấu cảm (!) khẳng định độ chân thật của câu chuyện
- Gây tò mò cho người đọc , người nghe vào đề độc đáo.
2. Tác giả kể chuyện
- Tác giả là thi sĩ.
+ Rất cao hứng đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn thuyết lí lại văn chơi.
+ Đắc ý: đọc có cảm xúc, hay “văn dài hơi tốt ran cung mây”
- Được chư tiên tán thưởng, hâm mộ: nở dạ, lè lưỡi, trau đôi mày, lắng tai đứng, ao ước, tranh nhau dặn…
- Trời khen “văn thật tuyệt”.
“Lời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết”.
- Cá tính của Tản Đà và niềm khát khao chân thành
- Tản Đà có cá tính rất “ngông”: ở cõi trần thân phận nhà văn bị “khinh bỉ”, coi thường, văn chương “rẻ như bèo”. Vì vậy nhà văn, tìm đến tận trời để khẳng định tài năng.
- Một người có ý thức về bản thân, dám tự khen mình. Nhưng không phải là tư liệu, thiếu khiêm tốn đó là thật thà, là ý thức được tài năng của mình.
- Giọng kể cao hứng, phấn trấn, tự hào.
3. Đoạn hiện thực trong bài thơ: Tình cảnh khốn khó của kẻ theo đuổi nghề văn trong xã hội lúc bấy giờ.
- Không tấc đất cắm dùi.
- Văn chương bị sẻ rúng.
- Làm chẳng đủ ăn.
- Bị o ép đủ điều.
- Nối cơ cực, tủi hổ của chính tác giả những người khác
4. Nét mới về nghệ thuật.
- Thơ mới: tự do về ngôn từ, không bị trói buộc.
- Ngôn từ: hóm hỉnh, ngông, độc đáo lôi cuốn người đọc.
- Biểu hiện cảm xúc: tự do, phóng khoáng.
- Hư cấu, tưởng tượng.

Bài này đã được đăng trong Soạn bài SGK. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.