Phân tích đoạn thơ “Nỗi buồn chinh phụ”

Phân tích đoạn thơ “Nỗi buồn chinh phụ”

Phân tích đoạn thơ “Nỗi buồn chinh phụ” (trích bản dịch thơ “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm)

“Lòng này gửi gió đông có tiện…
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu”   
                                     (Trích “Chinh phụ ngâm”)

Phân tích đoạn thơ "Nỗi buồn chinh phụ"

Phân tích đoạn thơ “Nỗi buồn chinh phụ”

Bài làm

Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn. mõ! danh sĩ hiếu học, tài ba sống vào khoảng nửa đầu thế ki 18, là một kiệt tác trong nền văn học cổ điển Việt Nam. Áng thơ này đã được hóa thân kì diệu qua bản dịch thơ thể song thất lục bát, tương truyền là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.

“Chinh phụ ngâm khúc” có một vị trí đặc biệt trong văn học sử dân tộc. Nó là mốc son mở đầu; đánh dấu cho một giai đoạn rực rỡ nhất trong nền văn học trung đại Việt Nam.

Xã hội phong kiến Việt Nam trong 2 thế kỷ XVII, XVIII tan nát điêu linh. Nội chiến và loạn lạc triền miên. Trai tráng giãi thây khắp các chiến địa. Người phụ nữ trở thành nạn nhân của chiến tranh, nếm đủ mùi cay đắng, đau khổ. “Chinh phụ ngâm khúc” mãi mãi là tiếng nói thiết tha về khát vọng hoà bình và lòng căm ghét chiến tranh phi nghĩa của nhân dân ta.

Tính trữ tình thấm đẫm khúc ngâm, thể hiện một cách cảm động nỗi lòng của người chinh phụ: tiếc hận, lo âu, trách móc, hò hẹn, thở than, thương nhớ đợi chờ… Những vần thơ song thất lục bát với âm điệu trữ tình sâu lắng qua bản dịch thơ cho thấy ngòi bút và tâm hồn dịch giả trong việc lựa chọn ngôn ngữ, tả cảnh, tả tình…vô cùng tinh tế và điêu luyện.

Đoạn thơ “Nỗi buồn chinh phụ” là sự thể hiện sâu sắc nhất cảm hứng nhân đạo và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của áng thơ “Chinh phụ ngâm khúc”. Đoạn thơ này dài 20 câu, từ câu 209 đến càu 228 trong toàn bộ khúc ngâm có 408 câu thơ song thất lục bát.

Người chinh phu đi mãi… đi mãi chưa vé. Trải qua bao năm tháng đợi chờ. nàng chinh phụ sống trong nỗi buồn cô đơn sầu tủi: “Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ – Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai”. Thời gian li biệt như kéo dài mãi thêm ra; mối sầu như ngổn ngang, nặng trĩu không kể xiết, nàng chinh phụ thở than, đau khổ: “Kể năm đã ba, tư cách diễn – Mối sầu thêm ngàn vạn ngổn ngang…”. Tâm tư ấy càng thêm da diết trước vũ trụ mênh mông, lạnh lẽo và cảnh vật não nùng. Câu thơ nào cũng đầy ắp tâm trạng nhớ nhung sầu muộn của nàng chinh phụ, nhất là 6 câu thơ đầu của đoạn trích.

Trước hết là một ước mong cháy bỏng đêm ngày:

“Lòng nàv gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên”.

“Lòng này” là sự thương nhớ khôn nguôi, vì đã trải qua nhiều đợi chờ: “Trải mấy thu tin di nhạn lại – Tới xuân này, tin hãy vắng không”. Gió đông là gió xuân. Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió. nhờ gió đưa tin, nhắn tin tới người chồng yêu thương nơi chiến địa xa xôi. nguy hiểm, nơi non Yên nghìn trùng. Non Yên. một địa danh cách xa Thiểm Tây, Trung Quốc hơn hai ngàn dặm về phía bắc. Hỏi gió, nhờ gió, nhưng “có tiện” hay không? Nếu “tiện” thì dẫu mất ngàn vàng cũng chịu. Chỉ còn biết hỏi gió nữa mà thôi, thì sự cô đơn của “lòng này” không thế’ nào tả hết. Làm sao tới được non Yên, nơi người chồng đang “nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh”? Chỉ còn lại nỗi nhớ:

“Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời ”

“Nhớ đằng đẵng” nghĩa là nhớ mãi, nhớ nhiều, nhớ lâu, nhớ không bao giờ nguôi. (Đằng đẵng: lâu dài quá; “Truyện Kiều” có câu: “Mỗi ngày đằng đẵng xem bằng ba thu”)

Câu thơ “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời ” là một câu thơ tuyệt bút, vừa diễn tả một nỗi nhớ thương đè nặng trong lòng, triền miên theo thời gian đêm ngày năm tháng (đằng đẵng) không bao giờ nguôi, vừa được cụ thể hoá bằng độ dài của không gian (đường lên bằng trời). Khi giải thích nghĩa câu thơ này, Nguyễn Thạch Giang đã viết: “Lòng nhớ chồng thăm thẳm dài dằng dặc vẫn có thể đến được dù có như đường lên trời” {“Chinh phụ ngâm diễn ca” – Nhà xuất bản Văn học, 1987). Có thể nói, dịch giả Đoàn Thị Điểm đã có một cách nói rất sâu sắc để cực tả nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ. Nỗi nhớ thương ấy, tiếng lòng thiết tha ấy lại được diễn tả qua âm điệu triền miên của vần thơ song thất lục bát với thủ pháp nghệ thuật liên hoàn – điệp ngữ. Cả một trời thương nhớ mênh mông. Nỗi buồn triền miên, dằng dặc vô tận: “Lòng này gửi gió đông có tiện – Nghìn vàng xin gửi đến non Yên – Non Yên dù chẳng tới miền – Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời – Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu…”

Sau khi hỏi “gió đông” để bày tỏ niềm thương nỗi nhớ chồng “đằng đẵng”, nàng chinh phụ lại hỏi “trời” để rồi tủi thân, than trách:

“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong Trời ở cao xa; không chỉ là cao mà là thăm thẳm, không chỉ là xa mà trở nên xa vời, nên không thấu, không hiểu cho “nỗi nhớ chàng” của người vợ trẻ. Nỗi nhớ càng trở nên đau đáu trong lòng. Đau đáu nghĩa là áy náy. lo lắng, day dứt khôn nguôi. Có thể nói qua cặp từ láy: “dằng dằng” và “đau đáu”, dịch giả đã thành công trong việc miêu tả những biến thái, những thương nhớ, đau buồn, lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể, tinh tế, sống động. Tâm trạng ấy được miêu tả trong quá trình phát triển mang tính bi kịch đáng thương.

Mười bốn câu thơ tiếp theo, nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm canh: nghệ thuật tả cảnh ngụ tình cực kì điêu luyện. Tính hình tượng kết hợp tính truyền cảm tạo nên sắc điệu trữ tình sâu lắng thiết tha:

“Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”

Nỗi thương nhớ, lúc thì “đằng đẵng”, lúc thi “đau đáu”, triền miên suốt ngày đêm. Đêm nối đêm như dài dài ra. Càng cô đơn càng thao thức. Nhìn cành cây ướt đẫm sương đêm mà thêm lạnh lẽo. Nghe tiếng trùng kêu ra rích thâu canh như tiếng “mưa phùn’ mà thêm buồn nhớ. Âm thanh ấy. cảnh sắc ấy vừa lạnh lẽo vừa buồn, càng khơi gợi trong lòng người vợ trẻ, cô dơn biết bao thương nhớ. lẫn buồn rầu. Lòng đau đớn như bị cắt cứa, chà xát (thiết tha lòng Có thể nói ha¡ câu thơ “Chinh phụ ngâm khúc” này rất gần gũi với hai câu “Kiều” nổi tiếng:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cành có vui đâu bao giờ…”

Ba khổ thơ cuối đoạn, hình tượng thiên nhiên được miêu tả thuộc không gian và thời gian khác nhau. Có cảnh sương tuyết lạnh lẽo mùa đông . có cảnh trăng hoa xinh đẹp mùa xuân. Cảnh sắc ấy nhằm ihế hiện một nét lâm trạng – người chinh phụ còn rất trẻ, trái tim khao khát yêu thương.

Cánh thiên nhiên thứ nhất, đó là một ngày đông tàn, những đêm đông lạng dài lê thê và lạnh lẽo. Một không gian ngập đầy sương tuyết. Cái lạnh lẽo như đang “bổ mòn”, như đang “xẻ héo” cỏ cây và lòng người cô phụ. Gốc liễu và cây ngô đồng là hai ẩn dụ – hai tâm cảnh tái tê. Hai câu thơ song hành, với hình ảnh so sánh thậm xưng là hai nét vẽ tài tình ngoại cảnh và tâm cảnh làm hiện lên một có phụ đang run rẩy giữa sương tuyết:

“Sương như búa, bổ mòn gấc liễu,
Tuyết đường cưa, xẻ héo cành ngô”

Những âm thanh gần xa, nhỏ lo, như gợi buồn, gợi nhớ. Ngày tàn, ngồi buồn mà xúc động lắng nghe. Một tiếng “chuông chùa nện khơi” ngân buông, lan xa giữa thinh không. Tiếng sâu tường gọi bầy văng vẳng. Và một đôi chim trống mái đứng gán nhau trong tổ ấm, đang ríu rít, đang “gù” trên bụi cây phủ đầy sương trắng. Những âm thanh ấy đối với cô phụ chiều đống này càng trớ nên “tliiết tha lòng”, vừa tê tái, vừa xao xuyến, rạo rực:

“Giọt sương phù bụi chim gù,
Sâu tường kèn vẳng, chuông chùa nện khơi”

Một mùa xuân nữa lại đến: “Kể năm đã ba, tư cách diễn…”. Nhưng đêm trăng quê nhà, nàng chinh phụ chăn đơn gối chiếc, thao thức suốt năm canh. Một ánh trăng soi tỏ trước hiên nhà. Vầng trăng gợi thương gợi nhớ người chồng trên chiến địa, nhắc lại những kỷ niệm lứa đôi ngày nào. Vài tiếng dế nhặt khoan. Mội hàng tiêu lay động. Gió thổi lay nhẹ lá màn phòng khuê. Trăng lên cao dần tỏa sáng những đóa hoa trước hiên. Tất cá đều làm cho nàng chinh phụ bổi hổi xúc động. Nàng lặng ngắm và lắng nghe:

“Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm”

Cảnh thiên nhiên thứ hai là cảnh nguyệt hoa. Một mùa xuân đẹp. Trăng, hoa nương vào nhau, lồng vào nhau mà thêm đẹp. Có hoa, trăng như thêm sáng. Có trăng, hoa cũng thèm hồng, thêm thắm:

“Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm lửng bông.
Nguyệt hoa hoa nguyệt trìmg trùng,
Trước hoa dưới nguvệt, trong lòng xiết đâu”

Nguvệt hoa hoa nguyệt lớp lớp chồng lên nhau “trùng trùng”. Nàng chinh phụ trong những đêm xuân đẹp, nhìn cành “Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng”, nhìn thấy cành lúc thì “hoa giãi nguyệt”, lúc thì “nguyệt lồng hoa”, mà lòng xôn xao rạo rực, khao khát yêu thương, hạnh phúc. Nỗi khao khát ái án ấy tuy âm thầm mà mãnh liệt. Nàng còn trẻ và đẹp nên càng nhìn cảnh nguyệt hoa: “nguyệt in một tấm”, “hoa thắm từng bông” mà xuân tình càng thêm rạo rực. Thế nhưng trước thực tại cay đắng phũ phàng: “chăn đơn gối chiếc”, nàng cảm thấy “trong lòng xiết đâu”, nỗi đau xót không biết chừng nào

Bức tranh thiên nhiên không còn lạnh lẽo nữa, thê lương sầu thắm nữa mà lộng lẫy nguyệt hoa, nồng nàn, rạo rực. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã đạt đến mức tuyệt diệu cổ điển. Hai hình ảnh nguyệt, hoa giao hòa, giao cảm. Mỗi chữ là một nét vẽ biểu cảm thần tình: giãi, lồng, thắm, in, trùng trùng, một tấm, từng bóng. Biện pháp tu từ liên hoàn, hai chữ “nguyệt, hoa ” xuất hiện ở tần số cao (6 lần) tạo nên âm điệu thiết tha, quấn quýt, xôn xao… Có thể nói ngoại cánh thiên nhiên với nguyệt hoa lộng lẫy đã đánh thức tuổi xuân và tình xuân trong lòng nàng chinh phụ.

Tóm lại, đoạn thơ “Nỗi buồn chinh phụ” là một đoạn thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt bút. Có cảnh lạnh lẽo khi lòng nàng chinh phụ tái tê, sầu muộn. Có cảnh thơ mộng đêm xuân khi lòng nàng chinh phụ rạo rực yêu thương và khát khao hạnh phúc lứa đôi. Nhưng cuối cùng nàng vẫn đau buồn trong bi kịch: “Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!”. Biện pháp nghệ thuật liên hoàn và ẩn dụ, so sánh, cách lựa chọn từ ngữ, nhất là các từ láy, đã đặc tả tâm trạng nhớ thương, đau buồn, cô đơn, sầu tủi, khao khát hạnh phúc của nàng chinh phụ “đằng đẵng” và “đau đáu” qua nhiều năm tháng. Qua đoạn thơ, ta cảm nhận chất nhạc lôi cuốn trong thơ song thất lục bát, khả năng lớn lao của tiếng Việt trên lĩnh vực trữ tình. Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn, đã thể hiện sâu sắc và cảm động nỗi buồn và niềm khao khát hạnh phúc của người chinh phụ giữa thời loạn lạc chiến tranh tàn khốc trong xã hội cũ.

Mình hi vọng với bài phân tích này do website chia sẻ, sẽ giúp các bạn có thêm những kiến thức văn học bổ ích phục vụ tốt cho quá trình học tập của mình.! Chúc các bạn có những giây phút vui vẻ, thoải mái trên website của chúng mình nhé!

Phân tích đoạn thơ “Nỗi buồn chinh phụ”
5 (100%) 2 votes