Cuộc sống của nhân dân ta trước Cách mạng Tháng Tám qua truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

Cuộc sống của nhân dân ta trước Cách mạng Tháng Tám qua truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

Khi Tản Đà dịch bài thơ “Lầu Hoàng Hạc” cua Thôi Hiệu sang thể lục bát, ông đã có lí.

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ…
….Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho lòng buồn ai.

Cái lí đó là cái tình xa quê của Tản Đà, câu thơ Thôi Hiệu đã nói hộ. Cái tình đó bây giờ ta cũng có thể nhận ra, vì cái văn học luôn là tấm gương phản chiếu xã hội và con người thời đại. Qua tấm gương ấy, ta có thể nhận thức và học tập được nhiều điều. Đọc truyện ngắn “Vợ nhặt’ của Kim Lân, ta có thể thấy khá rõ cuộc sống của nhân dân ta trước Cách mang Tháng Tám, dù cuộc sống ấy đã qua từ lâu, bị rất nhiều sự kiện lịch sử chất chồng che khuất. Cuộc sống ấy – được thể hiện qua một truyện ngắn đặc sắc – đã gây cho ta những ấn tượng thật khó quên… Việc tìm hiểu chức năng nhận thức của văn học đồng nghĩa với việc văn học phản ánh hiện thực và cung cấp các loại kiến thức cho con người. Vấn đề rất rộng, đòi hỏi nhiều công phu và thời gian nên ta chỉ khoanh lại ở những thời điểm lịch sử, những không gian tác phẩm tiêu biểu nhất.

Cuộc sống của nhân dân ta trước Cách mạng Tháng Tám qua truyện ngắn "Vợ nhặt" của Kim Lân

Cuộc sống của nhân dân ta trước Cách mạng Tháng Tám qua truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

Nhận thức qua văn chương không giống nhận thức từ các môn khoa học. Đó là sự nhận thức tự nguyện, thông qua hình tượng nghệ thuật. Sự nhận thức này được người đọc tự lựa chọn nên không gò ép và được lưu giữ rất bền bỉ. Sự nhận thức này luôn theo hướng làm đẹp con người về mặt tâm hồn. Nói cách khác đi, văn học luôn thanh lọc con người trong trường hợp tác phẩm được người đọc tri âm.

Mỗi tác phẩm văn học, dù thế nào đi nữa, cũng ít nhiều cung cấp cho người đọc những nhận thức về cuộc sống con người. Truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân cũng không đi ra ngoài thông lệ đó. Truyện giúp ta hiểu rõ hơn về một trong những trang bi thảm nhất trong lịch sử dân tộc – nan đói năm 1945 do Pháp – Nhật gây ra, làm gần hai triệu người Việt Nam chết đói…

Cái đói khiến bọn trẻ con “ngồi ủ rũ dưới những xó đường không thèm nhúc nhích”. Nó như một cơn lốc “tràn đến xóm này tự lúc nào”, hiện diện trong những con người “đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau”…”xanh xám như bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ” vì kiệt sứ. Cái đói làm “người chết như ngã rạ… thây nằm cong queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Giữa thì đói kém ấy, người sống “dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Âm thanh của cõi chết như vọng về từ “tiếng quạ… cứ gào lên từng hồi thê thiết”.

Cái đói làm con người biến đổi rất nhanh, cả hình dáng lẫn nhân cách. Người đàn bà lần đầu gặp Tràng còn hồn nhiên đùa cợt; lần thứ hai đã “gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Thị đói quá chỉ gợi ăn. Và khi được đồng ý thì “ngồi sà xuống… cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng trò chuyện gì”. Thị đã theo Tràng sau một câu đùa chơi của anh, thành người “vợ nhặt”! Lấy nhau rồi Tràng vấn thấp thỏm lo “đến cái thân mình cũng chẳng biết nuôi nổi không lại còn đèo bòng”, hàng xóm cũng phải lo thay “biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”.

“Vợ nhặt không chỉ tái hiện cái đói năm 1945. Truyện còn báo hiệu một trang hào hùng của lịch sử dân tộc. Trang sử đó được báo cáo trước bằng cái tin “trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Nhân vật chính của trang sử đó cũng lấp ló xuất hiện trong câu hỏi của anh dân quê “Việt Minh phải không?” và sừng sững hiện diện trong cảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê. Đằng trước là lá cờ đỏ to lắm”. “Lá cờ đỏ bay phấp phới” có sức hút kì lạ, lay thức anh dân quê mới hôm qua còn “không hiểu gì sợ quá, kéo vội xe thóc của Liên đoàn tắt qua cánh đồng đi lối khác.” Ở thời điểm của truyện, trang sử đó chưa sang trang. Nhưng tín hiệu trên đã như những là gió mạnh, làm lá cờ đỏ đã từng phấp phới trước đoàn người cứu đói kia, sẽ phấp phới trên cả nước vào tháng tám năm 1945, khi Việt Minh kêu gọi toàn dân cứu nước, giành độc lập, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc

Là một truyện ngắn, “Vợ nhặt” hướng ta về số phận những con người. Trong hoàn cảnh xã hội nói trên, lạ thay, những con người nghèo khổ vẫn cưu mang đùm bọc yêu thương nhau, cùng hướng tới tương lai. Hình như ở đây, Kim Lân chú ý khắc họa những nét đẹp của con người, những con người về bề ngoài có vẻ thô phác, chân chất, mộc mạc nhưng đều có tấm lòng thật đáng quý.

Tràng xuất hiện trong truyện với dáng đi “ngật ngưỡng”, “vừa đi vừa tủm tỉm cười”, “bộ mặt thô kệch”, lại “có tật vừa đi vừa nói… lảm nhảm than thở những điều hắn nghĩ”. Bộ dạng bề ngoài của Tràng thật xoàng xĩnh: cái đầu cạo trọc nhẵn, cái lưng bè như lưng gấu vắt cái áo nâu tàng… Lối ăn nói thì thô kệch, mở miệng là “làm đếch gì có”, “Mẹ bố chúng mày”, là “bố ranh”… Những điều trên , ta đã thấy thấp thoáng trong những nét nào đó của nhân vật trong tác phẩm Nam Cao, Bùi Hiển, Tô Hoài, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… Nghĩa là những nét thô phác, mộc mạc đến dân dã của người nông dân lao động, nghĩa là có một chút gì đó như “dở hơi”, xấu xí về mặt hình dáng, đơn giản trong lối ăn nói, tự nhiên trong sinh hoạt… Song nhân vật trong “Vợ nhặt” của Kim Lân không đi vào lối mòn chung của văn học hiện thực phê phán là bị méo mó về nhân cách. Tràng là con người hướng thiện, là người có lòng nhân hậu. Dù không dư dật gì, anh vẫn sẵn sàng cho người đàn bà đói khát kia ăn uống, không hề tính toán. Anh không ngờ rằng anh chỉ đùa bỡ mà người đàn bà đã chịu lấy anh! Chỉ một thoáng băn khoăn anh đã “Chậc, kệ” và “vào chợ mua cho thị một cái thúng con để đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê rồi đẩy xe về…”

Nhân vật bà cụ Tứ, mẹ Tràng cũng có tấm lòng thật đáng quý là một người mẹ nghèo, bà rất thương con, bà cảm thấy tủi thân “người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì…”. Bà thấy khổ tâm vì lúc con có vợ mà không có được “dăm ba mâm” cho phải phép với làng xóm. Tràn ngập trong lòng bà là nỗi lo “chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”… Tất nhiên bà cụ rất mừng cho con. Nồi “chè khoán” và nụ cười đon đả của người mẹ thật cảm động, khiến cho những “miếng cám đắng chát nghẹn ứ trong cổ” vẫn là bữa tiệc nhỏ trong cơn đói khát. 

Với người “Vợ nhặt”, Kim Lân muốn khắc họa một sức sống tiềm tàng và mạnh mẽ của con người. Trước hết đó là bản năng. Vì sự sống, người đàn bà đã đến với Tràng, không chỉ vì ăn? Có thể miếng ăn lúc đói khát kéo họ gần lại nhau. Lúc đã là vợ Tràng, người đàn bà sống bằng bổn phận, cùng quét sân, vá áo, chia sẻ sướng vui với gia đình chồng. Ở đời, người ta có nhiều cách lấy nhau. Ai dám bảo vợ chồng Tràng không yêu nhau? Có thể lắm chứ, tình yêu của họ bắt đầu từ những câu hát chọc ghẹo, từ lòng vị tha của Tràng, từ “cái lườm không trả lời” âu yếm của người đàn bà bất hạnh? CÓ một điều dễ thấy khi đọc truyện “Vợ nhặt” là ngay cả trong những hoàn cảnh khốn khó nhất, cận kề cái chết, con người vẫn hướng về một mái ấm gia đình, về hạnh phúc lứa đôi. Điều đó không hẳn là bản năng.

Phản ánh và cung cấp những nhận thức về hiện thực đời sống Việt Nam trước Cách Mạng Tháng Tám. Trong truyện ngắn “Vợ nhặt’, Kim Lân đã dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật văn chương rất thành công. Từ cách đặt tên truyện đến cách kết cấu truyện, từ giọng kể đến việc chọn các chi tiết nhân vật… nhà văn đều tỏ ra tỉ mỉ, dụng công đầy sáng tạo. Hình tượng tác phẩm “Vợ nhặt” là hình tượng vừa lạ, vừa hiếm hoi trong văn chương Việt Nam. Có lẽ vì thế mà nó có sức hấp dẫn và lôi cuốn người đọc. Bài học về cuộc sống tối tăm tủi nhục, về tình người Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám, vì thế cứ sáng rỡ dần lên…

Tóm lại, văn học trong khi phản ánh hiện thực, tự bản chất đã cung cấp cho người đọc những nhận thức nhất định về tự nhiên xã hội và con người. Bởi thế, vai trò và trách nhiệm của nhà văn rất lớn đối với xã hội. Người ta có thể đánh giá nhân cách của nhà văn qua tác phẩm. Sự trung thực của nhà văn trong khi phản ánh lịch sử xã hội là yếu tố vô cùng cần thiết. Chỉ có sự trung thực và lòng nhân đạo của nhà văn mới khiến cho tác phẩm của họ có đích hướng thiện rõ ràng.

Bài học lớn nhất mà Kim Lân để lại trong “Vợ nhặt” chính là cái đích hướng thiện ấy. Bằng ngòi bút già dặn trong nghệ thuật viết truyện, nhà văn đã nói được tiếng nói trung thực về lịch sử và con người Việt Nam. Chính sự trung thực ấy sẽ khiến “Vợ nhặt” sống mãi với thế hệ bạn đọc, hôm nay và mai sau…

Hoàng Thủy Vũ Hằng – trường THPT Nguyễn Trãi TP HCM

Cuộc sống của nhân dân ta trước Cách mạng Tháng Tám qua truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
5 (100%) 2 votes