Hãy phân tích bài thơ Ngôn hoài của Không Lộ thiền sư

Hãy phân tích bài thơ Ngôn hoài của Không Lộ thiền sư

Hãy phân tích bài thơ Ngôn hoài của Không Lộ thiền sư

NGÔN HOÀI (Không Lộ thiền sư ? – 1119)

Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhặt lạc vô dư
Hữu thì trực thượng cô phong đính
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư

TỎ LÒNG

Kiểu đất long xà chọn được nơi
Tình quê nào chán suốt ngày vui
Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.

PHAN VÔ dịch

Bài làm

1. Văn thơ trung đại, tài liệu cổ nhất còn giữ được là bài thơ của nhà sư Ngô Chân Lưu làm để tiễn Lý Giác, sứ thần nhà Tống (thế kỷ thứ 10). Trong buổi đầu của nền văn học Đại Việt, các tác giả phần lớn là tăng lữ. Bấy giờ Phật giáo thịnh hành, trở thành quốc giáo, có vai trò hàng đầu trong đời sống chính trị và văn hoá các triều Đinh, Tiền Lê và Lý. Theo sách “Thiền uyển tập anh” thì trong đời Lý có khoảng trên 40 nhà sư sáng tác thơ văn, phần lớn là các bài “hệ” đượm mùi thiền. Tên tuổi một số thiền sư – thi sĩ không bao giờ phai mờ trong sử sách dân tộc; Vạn Hạnh thiền sư (? – 1018), Mãn Giác đại sư (1052 – 1098), Viên Chiếu thiền sư (990 – 1091), Không Lộ thiền sư (? – 1119), Quảng Nghiêm thiền sư (1121 – 1190), v.v…

Nhà Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê dựng nước đều dựa vào nhà chùa. Đến thời Lý thì Phật giáo có ảnh hưởng sâu rộng và mạnh mẽ. Câu tục ngữ “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” phản ánh đậm nét gương mặt xã hội Việt Nam dưới thời Lý (1003 – 1225)

Đạo Phật du nhập vào nước ta khá sớm, Triết lý từ bi của nó hoà đồng với đạo lý dân tộc “thương người như thể thương thân”. Nó có vai trò tích cực trong đời sống xã hội và tâm hồn Đại Việt, trong việc củng cố ý thức đoàn kết dân tộc, phát huy ý chí tự lập tự cường của nhân dân ta. Trong đời Lý, vị trí quan trọng của tăng lữ trên thi đàn phản ánh vị trí quan trọng của họ trong xã hội. Đó là những nhà sư đức trọng tài cao, học thuật uyên bác, là thi sĩ tài ba, có uy tín lớn trong triều đình và ngoài xã hội. Là nhà tu hành chân chính nhưng lại “nhập thế” chan hoà. Họ là linh hồn của thơ văn chữ Hán trong các thế kỷ thứ 10, 11, 12, mà ta thường gọi là thơ văn Lý – Trần.

Ở thời Đinh, Tiền Lê, Lý chưa có sự phân định rõ ràng giữa học thuật và văn chương. Nhiều bài “kệ” vừa mang tính triết lý sâu sắc của Phật giáo, vừa tràn đầy cảm xúc, hình tượng và thi vị của một áng thơ. Nhà tu hành khoác áo cà sa, niệm Phật, thỉnh chuông… dưới mái chùa nhưng đồng thời cũng là thi sĩ tài hoa, yêu đời, yêu tạo vật.

– “Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai”
(“Có bệnh bảo mọi người” – Mãn Giác đại sư)

– “Ông chài ngủ tít ai lay
Quá trưa tỉnh dạy, tuyết bay đầy thuyền”
(“Ngư nhàn” – Không Lộ thiền sư)

“Ngôn hoài”, “Thuật hoài”, “Thuật cảm”, v.v… là những thi phẩm trữ tình mang dấu ấn buổi đầu trong thơ ca trung đại. Nội dung của các bài thơ ấy, chủ yếu nêu ra, bày tỏ ra, thổ lộ ra những ý nghĩ, cảm xúc của chính lòng các thi sĩ – thiền sư. Cảm hứng trữ tình ấy được diễn đạt một cách thanh thoát, hàm súc trong thể thơ thất ngôn tuyệt cú, bằng một bút pháp tinh tế, điêu luyện. Thiên nhiên vốn rất gần gũi thân thiết với con người trong một xã hội nông nghiệp thuần phác, lại được các thi sĩ – thiền sư miêu tả với bao tình cảm chan hoà, nồng thắm và tươi đẹp.

Đó là một số điều cần biết để làm cơ sở cho sự phân tích và cảm nhận một số bài thơ của các vị thiền sư ngày xưa.

2. Không Lộ thiền sư (? – 1119) họ Dương, vốn xuất thân dân chài rồi đi tu, nghiên cứu Phật học. Học rộng, tài cao, đức trọng, không màng danh lợi, thích du ngoạn, yêu thiên nhiên. Tên tuổi gắn liền với một số giai thoại truyền kỳ. Hiện còn lại hai bài thơ tuyệt cú: “Ngư nhàn” và “Ngôn hoài”.

“Ngôn hoài” – giãi bày nỗi lòng của thiền sư – thi sĩ: Một niềm yêu đời chan hoà trong tình yêu quê hương, yêu thiên nhiên tạo vật.

Câu 1: Nói lên vẻ đẹp thân thuộc của quê nhà: “Trạch đắc long xà địa khả cư”. Thế đất nơi làm nhà mình là “long xà” – rồng rắn. Hình ảnh ẩn dụ ấy gợi tả địa hình, địa vật phía trước, phía sau, gần xa, xung quanh ngôi nhà thân yêu của mình là núi đồi nhấp nhô, khe ngồi uốn lượn, hùng vĩ, hữu tình, đẹp tươi khác thường. Mảnh đất ấy mình đã chọn được. Hai tiếng “trạch đắc” biểu lộ niềm sung sướng tự hào. Cách nhìn thế đất “long xà” bắt nguồn từ quan niệm của người xưa theo thuyết “địa linh nhân kiệt”, “địa lợi đa phúc”. Có thế đất “rồng chầu hổ phục”, có thế đất “song phượng tranh châu”, có thế đất “rồng bay rắn cuộn”, v.v… Sau hình ảnh “long xà”, thi sĩ tỏ lòng một cách kín đáo qua ý thơ: “địa khả cư” – Rất vừa lòng, toại nguyện về thế đất làm nhà của mình. Đằng sau câu thơ là một nụ cười hồn hậu.

Câu 2: “Dã tình chung nhật lạc vô dư”, nhà thơ trực tiếp giãi bày nỗi lòng. “Dã tình” là mối tình thôn dã, quê nhà. Mỗi tình thân thiết gắn bó ấy với quê hương đồng gió nội, với gió núi mưa ngàn…., đã mang lại cho vị thiền sư một niềm vui dào dạt, niềm vui suốt ngày không chán. Hai chữ “chung nhật” nói lên trường độ của niềm vui. Ba tiếng “lạc vô dư” là niềm vui bát ngát, không chán. Niềm vui ấy đâu phải chốn thiền môn, Phật đài, gác chuông… đem đến cho Không Lộ thiền sư? Từ cuộc đời, từ ngôi nhà, từ núi non, khe nước quê hương, bao niềm vui đời thường, trần tục, trần thế (chuyện ăn ở) đã đến với thiền sư! Có thể nói, hai câu thơ đầu bài thơ ấm áp tình người, tình đời vì tình yêu tạo vật. Câu thơ dịch của cụ Phó bảng Phan Võ vừa sát nghĩa vừa hay; lời hơ, ý hơ, hình ảnh được sắp xếp lại một cách sáng tạo:

“Kiểu đất long xà chọn được nơi,
Tình quê nào chán suốt ngày vui”

Hai câu thơ 3, 4 một ý thơ kỳ lạ đột xuất, nó đem đến cho người đọc nhiều ngạc nhiên lý thú: Có lúc thiền sư trèo thẳng lên đỉnh núi trơ trọi, rồi kêu dài một tiếng lạnh cả bầu trời:

“Hữu thị trực thượng có phong đính
Trường khiếu nhất thanh hàn hái hư”

Với một vị thiền sư đức trọng tài cao, sống cách chúng ta ngày nay gần một thiên niên kỷ, thì cái hành động lên thẳng đỉnh núi trơ trọi (trực thượng cô phong đính), cái cử chỉ cất lên một tiếng kêu dài (trường khiếu nhất thanh) là một điều xa lạ và khó hiểu vô cùng! Vị thiền sư muốn chiếm lấy tầm cao và đứng trên tầm cao của đỉnh núi mà “tỏ lòng” với cõi thái hư, với vũ trụ bao la. Chỉ một tiếng kêu thôi mà bầu trời vang động, làm “lạnh” cả cõi thái hư mênh mông (hàn thái hư). Các từ ngữ “trực thượng”, “trường”, “nhất”, “hàn” hô ứng và liên kết với nhau, tạo nên một ý thơ mới mẻ, sâu sắc, hình tượng thơ đẹp đầy ấn tượng. Chữ “hàn” là nhân tự của bài thơ “Ngôn Hoài”. Chữ “trường” là dài đã được dịch giả chuyển thành “vang”, kể cũng sáng tạo:

“Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời”

Phần hai của bài thơ nói lên cách sống và tâm thế của vị thiền sư đáng kính: chan hoà với thiên nhiên, gắn bó với sông núi, sống một cách mạnh mẽ. Tuy tụng kinh niệm Phật nhưng không thoát tục, vẫn nhập thế tích cực. Và cái hành động “trực thượng cô phong đính…” của vị thiền sư là một hiện tượng độc nhất, hi hữu. Quảng Nghiêm thiền sư (1121-1190) cũng từng thổ lộ:

“Nam nhi, tự hữu xung thiên chí
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành
(Làm trai lập chí xông trời thẳm
Theo gót Như Lai luống nhọc mình)
(“Hưu hướng Như Lai”)

Bình luận về hai câu thơ này, giáo sư Đinh Gia Khánh viết:

“… nghị lực và khí phách của con người rất vững tin ở mình… đã dựng lên được hình tượng một con người có ý chí lớn, có bản lĩnh cao. Giá trị văn học của bài thơ là ở chỗ ấy… Cần thấy thêm rằng hai câu thơ này (3,4) biểu hiện mộ sự hoà đồng, thâm nhập giữa con người và thiên nhiên”.
(Văn học đời Lý).

Niềm vui hồn nhiên, trong sáng tìm thấy nơi quê hương, trong thiên nhiên và giữa cõi trần đã được Không Lộ thiền sư thể hiện một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt có ý tưởng mới lạ, ngôn từ trau chuốt, hình tượng kỳ vĩ, cảm xúc dạt dào. Tóm lại, “Ngôn hoài” là một bài thơ hay và đẹp. Mối tình quê nồng hậu, ấm áp. Một tấm lòng đối với thiên nhiên mang nặng tình người. “Ngôn hoài” là một bông sen đẹp nở trong ao chùa làng ta mà hương sắc đậm đà với thời gian và quê hương đất nước. Nó tiêu biểu cho “thơ thiền” thời Lý, giàu cá tính sáng tạo của một hồn thơ tài ba lỗi lạc. 

3. Trong bài “Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học”, giáo sư Đặng Thai Mai viết:

….”Tình cảm thiên nhiên trong thơ thời đại này không phải chỉ là những cảm hứng gián tiếp, vay mượn từ điển cố sách vở Trung Hoa. Điều đáng quý là từ trong thơ luôn luôn thoát ra một ấn tượng chân thật bắt nguồn từ những cảm giác đã “sống”, từ những cảm giác trực tiếp. Và trên cơ sở ấy, tứ thơ đã chắp cánh cho thơ bay bổng.

Sư Không Lộ con nhà làng chài, là một nhà chân tu thế kỷ 12, rất được triều đình kính trọng. Truyền thuyết bảo là nhà sư này “Cao tay”, có thể đi trên nước, bay giữa trời, đánh chết hổ và vật ngữ “rồng”. Có phần chắc là Không Lộ trước khi đi tu Phật cũng đã dày công luyện tập ít nhiều thuật pháp đạo học. Thơ của Không Lộ ca ngợi thú vị đời sống đồng quê bằng một lối chủ nghĩa trữ tình tôn giáo nhưng không hề có ý vị cửa Thiền. Nhà thơ vui mừng nhìn địa hình địa vật qua những rặng đời núi hình rồng hình rắn uống quanh ngôi nhà của mình. Đó là lối nhìn của các thầy địa lý. Nhà sư trèo lên đỉnh núi cao, thở một hơi dài, và nghe như hởi thở của con người đã lên tới cung nhà trời trên cõi thái hư. Cũng vẫn là một cảm hứng đạo học”.

Hãy phân tích bài thơ Ngôn hoài của Không Lộ thiền sư
4 (80%) 2 votes