Phân tích xung đột kịch của hồn Trương Ba trong Hồn Trương Ba da hàng thịt

Ý và bài làm:

I. Mở bài
Lưu Quang Vũ là một nghệ sỹ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, viết kịch,… Ông giống như một thứ kính lục lăng, nhìn ở góc độ nào cũng thấy sáng. Ông được xem là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường Việt Nam những năm 80 của thế kỉ XX. Kịch của Lưu Quang Vũ dữ dội và sắc sảo, đề cập tới những vấn đề nóng bỏng của đất nước thời kì đổi mới. Bên cạnh “Nàng Xi-ta”, “Lời nói dối cuối cùng”, “Tôi và chúng ta”, vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (viết năm 1981, ra mắt công chúng năm 1987) đã gây được tiếng vang lớn với công chúng và được công diễn nhiều lần trên sân khấu trong và ngoài nước. Thông qua vở kịch, đặc biệt là đoạn trích nói về bi kịch sống vay mượn, lệ thuộc của hồn Trương Ba, tác giả đã gửi đến bạn đọc những triết lý nhân sinh cao đẹp.

II. Thân bài
1. Khái quát nội dung dẫn đến xung đột kịch
Trương Ba là một người làm vườn tốt bụng, khỏe  mạnh, bị chết một cách vô lý do sự vô tâm, tắc trách của hai vị quan trên thiên đình là Nam Tào và Bắc Đẩu. Cách sửa sai của tiên Đế Thích là hóa phép cho Trương Ba được sống lại trong xác anh hàng thịt nhưng lại đẩy Trương Ba vào nghịch cảnh trớ trêu, sống vay mượn hình hài, thân xác kềnh càng, thô lỗ và bị cái thể xác đầy bản năng ấy lấn lướt làm cho tha hóa, biến chất. Để làm rõ bi kịch của hồn Trương Ba, nhà văn  Lưu Quang Vũ đã xây dựng những cuộc đối thoại đặc sắc: cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, với người thân, với Đế Thích.
Và trước khi miêu tả cuộc đối thoai giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, tác giả đã miêu tả hồn Trương Ba “ngồi ôm đầu gối lâu rồi đứng vụt dậy” với lời độc thoại đầy khẩn thiết: Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi … dù chỉ một lát”. Ở lời độc thoại này những câu cảm thán xuất hiện dồn dập cùng với những khắc khoải ước vọng của hồn Trương Ba, Lưu Quang Vũ cho chúng ta thấy hồn Trương Ba đang ở trong một tâm trạng bức bối, đau khổ vô cùng và tất yếu dẫn đến cuộc đối thoại với xác.

2. Cuộc đối thoại với xác hàng thịt
Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt đầy kịch tính. Tác giả đã khéo léo tạo ra 26 lời thoại, mỗi bên 13 lời nhưng tính chất, giọng điệu, sắc thái lại khác nhau. Lời của hồn Trương Ba thường ngắn, đứt gãy và được diễn tả bằng nhiều câu cảm thán. Còn lời của xác hàng thịt thường dài, hừng hực và cao ngạo. Cũng ở trong cuộc hội thọai này ta nhận thấy hồn Trương Ba bị đẩy vào thế đuối lí. Từ chỗ Trương Ba lớn tiếng phủ nhận: “Vô lí. Mày không thể biết nói!”, “Mày không có tiếng nói” đến chỗ chấp nhận xác có tiếng nói, nhứng đó là tiếng gọi nơi hoang dã của bản năng thấp kém tầm thường. Từ chỗ phủ định quyết liệt đến chỗ không dám trả lời, lúng túng trong câu nói đứt quãng” ta…ta…đã bảo mày im đi!”, “nhưng…nhưng…”. Từ chỗ xưng hô mày-tao vào đầu cuộc hội thoại, xác đã tinh ý nhận ra khi cuộc đối thoại vào hồi kết “ấy đấy, ông bắt đầu gọi tôi là anh rồi đấy!”. Từ mạnh mẽ khí thế đấu tranh đến tiếng kêu trời tuyệt vọng và dáng dấp bần thần, tội nghiệp nhập lại vào xác anh hàng thịt, như một sự an bài, “ngồi lặng lẽ bên chõng”. Trong cuộc đối thoại, xác mỗi lúc một lấn lướt, dồn đuổi hồn Trương Ba. Xác giễu cợt mỉa mai hồn “có đấy! Xác thịt có tiếng nói đấy!”, “Có thật thế không?”. Xác cao giọng khoái chí, đòi hồn thành thật trả lời. Xác đưa ra những sự thật mà hồn không thể chối cãi. Có thể nói, xác rất nhiều giọng điệu, lúc mỉa mai, lúc giễu cợt, lúc thách thức, lúc an ủi… Xác đã chứng tỏ được ưu thế của nó quyền uy khủng khiếp của nó và sự chi phối của nó đối với hồn.

*bức thông điệp qua cuộc đối thoại
-chỉ ra cái bi kịch của nhân vật
-điều đúng và sai trái của thể xác ->ẩn dụ sâu sắc về cuộc đời
-cuộc đấu tranh giữa phần con và phần người -> con người  tỉnh táo cần cảnh giác, luôn phải dấu tranh.
Xung đột kịch chưa được giải quyết, tuy nhiên qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt, người đọc nhận ra những hàm ý sâu sa mà Lưu Quang Vũ gửi gắm vào trong đó. Qua cuộc đối thoại, tác giả xoáy sâu vào bi kịch với những giằn vặt khổ đau của hồn Trương Ba để chứng tỏ rằng Trương Ba là một người có thiên lương trong sạch, tâm hồn thanh cao và bản tính đầy tự trọng cho nên khi được trả lại cuộc sống nhưng đó là sống nhờ, sống vả vào thân xác của người khác, ông vô cùng đau đớn cho cái bi kịch ngang trái của đời mình. Thể xác là tiếng nói bản năng của con người, xác hay đời sống vật chất đều có tiếng nói riêng. Bản thân tiếng nói ấy không có gì đáng xấu hổ hay đáng trách cả. Chỉ khi nào nó cố lấn áp tâm hồn, tinh thần, xui khiến tâm hồn làm điều xằng bậy thì lúc đó mới đáng được lên án. Cuộc đối thoại giữa hồn và xác thực chất là cuộc đấu tranh giữa phần con và phần người, giữa đạo đức và tội lỗi, giữa khát vọng và dục vong; và thể xác chịu sự chỉ đạo của tâm hôn nhưng nó cũng có tác động ghê gớm đối với tâm hồn. Vì vậy con người luôn luôn  phải cảnh giác, luôn luôn phải đấu tranh và tự đấu tranh với chính mình để vượt qua những đòi hỏi sai lạc của thể xác, vượt lên những dung tục của đời thường.

*Tiểu kết:
Phản ánh cuộc sống với không ít những nghịch cảnh, qua xung đột giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt, tác giả thể hiện giả định khi nhìn thẳng vào thực tế, khám phá những góc khuất trong tâm hồn con người với sự giằng xé âm thầm. Lưu Quang Vũ lại đem đến cho chúng ta một thông điệp: môi trường xung quanh có tác động rất lớn đối với việc hình thành nhân cách con người. Đáng nói là con người phải sống trung thực với bản thân. Cuộc sống chắp vá, nhờ vả là vô nghĩa. Làm thế nào để bảo vệ, hoàn thiện nhân cách, bảo vệ những giá trị văn hóa mà con người dốc sức vun đắp hàng ngàn năm nay. Đó là một vấn đề lớn.

3. Cuộc đối thoại với người thân
-Với vợ: vợ đòi bỏ đi
-Với con dâu: con dâu xót xa cho bố, nhưng đau đớn bi kịch gia đình sắp ập đến
-Với cháu nội: vốn hiền lành, yêu quý ông, bây giờ nó ghét ông, đuổi ông.
Bị xác phàm và bản năng đồ tể lấn lướt, hồn Trương Ba thay đổi giọng điệu, chứng kiến và phải chịu đựng những thay đổi này trước hết là những người thân trong gia đình. Họ thật xa lánh thậm chí còn khinh ghét Trương Ba, không phải  ngấu nhiên tác giả lại đưa anh con trai hư hỏng vào cuộc đối thoại. Người vợ vốn thương chồng, lại là người hiền hậu và giàu đức hi sinh, lòng vị tha, đau khổ vì bất lực: “Ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”. Ông vốn là người biết yêu thương vợ con, vậy mà bây giờ chẳng biết quan tâm đến ai, vậy nên bà định bỏ đi và nhường ông cho vợ anh hàng thịt. Cô con dâu là người biết thương cảm cho tình cảnh của hồn Trương Ba “bởi con biết bây giờ thầy đau khổ hơn xưa nhiều lắm”. Nhưng người con dâu hiếu thảo ấy cũng chỉ biết xót xa ngỡ ngàng, bởi không thấy được hình ảnh con người  “hiền hậu”, “vui vẻ”, “tốt lành như thầy của chúng con xưa kia”. Chị nói trong đau đớn tột cùng khi cảm thấy một bi kịch khủng khiếp sắp ập xuống gia đình mình,  “nhà ta sắp tan hoang ra cả”, hay xót xa  “có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa” . Cái Gái là đứa cháu nội vốn hiền lành, yêu quí ông. Nay nó thấy ông trở nên thô lỗ, phũ phàng và vụng về thì phản ứng quyết liệt “ông xấu lắm, ác lắm” vì ông không biết quý cây. Nó không chấp nhận người ông có bàn tay giết lợn, bàn chân to bè như cái dẹt, thô lỗ, vụng về. Tâm hòn trẻ thơ trong sáng hồn nhiên như cái Gái không chấp nhận hình ảnh một người ông như thế. Nó phản ứng mạnh mẽ tới mức vừa chạy vừa khóc và xua đuổi ông: “Cút đi! Lão đồ tể! Cút đi! “.

*Ý nghĩa rút ra và tiểu kết
Những người thân Trương Ba đều có tâm trạng xót xa đau khổ, nhưng họ bất lực, không thể giải thoát cho Trương Ba khỏi xác của anh đồ tể thô lỗ cục cằn. Nhưng chính nỗi đau khổ cùng với những phản ứng của họ cho thấy bi kịch của nhân vật càng về sau càng dữ dội hơn. Vì thế hồn Trương Ba càng ý thức được sâu sắc bi kịch của chính mình: sự tha hóa, biến chất của bản thân làm cho gia đình trao đảo có nguy cơ tan vỡ. Bi kịch của Trương Ba lúc này là bi kịch không được thừa nhận. Với Trương Ba mất gia đình, ý nghĩa sống còn đâu nữa. Trong đau khổ tuyệt vọng, hồn nhận rõ hiện thực chua chát thì càng đấu tranh với chính mình: “mày đã thắng thé rồi đấy, cái thân xác không phải là của tao ạ… nhưng lẽ nào tao lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?” Điều này có tính quyết định tới hành động của hồn Trương Ba châm hương gọi Đế Thích để trả xác cho anh hàng thịt, quyết không mượn thân xác của ai.
4. Cuộc đối thoại với Đế Thích
Bi kịch gia đình là nút nhấn cuối cùng trong tấm bi kịch hồn Trương Ba: mất gia đình, ý nghĩa sống của hồn Trương Ba không còn nữa. Ông giễu cợt cái xác rồi tự nhủ:”không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần”, rồi thắp hương mời Đế Thích xuống. Qua lời thoại này của hồn Trương  Ba, tác giả muốn khẳng định rằng: “con người cũng là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa, không thể có một tâm hồn thanh cao trong một cái xác phàm tục, tội lỗi”. Khi con người bị chi phối bởi nhu cầu bản năng của bản thân thì đừng đổi lỗi cho thân xác, đừng vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. “Là tôi toàn vẹn” tức là dám là mình, dám chịu trách nhiệm về mình. Cái đẹp tưởng như dễ dàng ấy không dễ dàng chút nào. Thói quen “áp đặt” cua Đế thích cho người đời đôi khi cũng làm cho mong muốn giản dị “là tôi toàn vẹn” trở nên khát vọng. Thói quen “sống nhờ, sống gửi” đã khiến cho con người ta quên đi cái tôi của bản thân mình. Sống thực cho ra con người, sống nhờ sống gửi thật chẳng dễ chút nào, khi không được là mình thì cuộc sống trở nên vô nghĩa. Thời gian hồn Trương Ba sống nhờ trong xác hàng thị là khỏang thời gian đau khổ và bi kịch. Vì vậy con người cần biết luôn đấu tranh để thoát khỏi những nghịch cảnh, để chống lại sự dung tục và hoàn thiện nhân cách. Trương Ba đã thẳng thắn chỉ ra sai lầm của Đế Thích “ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết” Một lần nữa nhà văn muốn khẳng định ” không phải cứ sống là được hạnh phúc mà quan trọng là sống như thế nào? Sống phải tự nhiên, hài hòa giữa thể xác và linh hồn.” Và ở đây nhà văn muốn nói đến lòng tốt hời hợt thì chẳng đem lại ý nghĩa cho ai mà sự vô tâm còn tệ hại hơn, vì nó đẩy con người vào nghịch cảnh, vào bi kịch.
Bản thân Đế Thích ngạc nhiên nhưng khi hiểu ra thì khuyên Trương Ba nên chấp nhận vì thế giới vốn không toàn vẹn:” Dưới đất, trên trời đều thế cả, ngay cả Ngọc Hoàng cũng không được sống như chính mình”. Đế Thích định tiếp tục sửa sai bằng giải pháp cho Trương Ba nhập vào xác cu Tị với mong muốn cuộc đời Trương Ba sẽ kéo dài hơn những Trương Ba không cho phép mình tiếp tục sống cuộc sống giả tạo. Cuộc sống đó còn đau khổ hơn là chết, không chỉ ngược lại quy luật sinh tồn của tự nhiên mà còn là hành động thiếu đạo đức, không công bằng. Như vậy, sống chết không phải là chuyện cá nhân mà cần phải nghĩ đến quan hệ xã hội, cần phải  nghĩ đến quan hện của người khác. Hồn Trương Ba không cho phép mình làm người khác đau khổ nữa mà muốn chấm dứt để không còn cái vật quái gở mang tên “Hồn Trương Ba, da hành thịt” nữa.
* Tiểu kết
Như vậy qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích, kịch của Lưu Quang Vũ mở ra những thông điệp vừa trực tiếp, vừa ngầm ẩn, vừa mãnh liệt vừa kín đáo về thời đại chúng ta đang sống. Dễ hiểu trong cái thế giới giả tạo bủa vây mịt mùng ấy, một người chống lại sự giả dối như Trương Ba chỉ còn một các là chết mà thôi. Quan xung đột kịch, Lưu Quang Vũ khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp con người trong sự chống lại sự dung tục, giả tạo để bảo vệ quyền được sống toàn vẹn hợp lẽ với tự nhiên và nhân cách chất thơ của kịch Lưu Quang Vũ cũng được bộc lộ ở đây.
4. Màn kết:
Vở kịch khép lại là hồn Trương Ba trả lại xác cho anh hàng thịt, quyết không mượn thân xác của người khác, để giữ mãi linh hồn được trong sạch, hóa thân vào những sự vật thân thương “tôi vẫn ở đây bà ạ. Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, trong cái cơi mà đựng trầu, con dao bà giẫy cỏ… Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây trong vườn nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu.” Cái chết không phải là sự ra đi vĩnh viễn nhưng con  người Trương Ba sẽ bất tử trong tâm hồn những người thân yêu. Cuộc sống lại tuần hoàn theo quy luật muốn đời, hình ảnh cái Gái vùi những hạt na xuống đất nó gieo lên mừng rỡ với cu Tí “cho nó mọc thành cây mới. Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi….”
Đây là một kết thúc đầy chất thơ sâu lắng đem lại âm hưởng lạc quan cho bi kịch. Trương Ba lựa chọn cái chết, là sự lựa chọn của một người giàu lòng tự trọng, sống ngay thẳng, trong sạch, giàu tình nghĩa và đầy nhân cách. Đây là cách tìm được sự bất tử, sự thanh thản trong tâm hồn. Khát vọng của Trương Ba là vươn tới cái chân thực và toàn vẹn tuyệt đối. Ở góc độ này nhân vật hồn Trương Ba còn cao cả hơn Đế Thích, dũng cảm nói lên tiếng nói bảo vệ chân lí cao quí của người: Sống trung thực để bảo vệ trọn vẹn nhân cách, trọn vẹn giá trị nhân sinh.
III. Kết bài
-Nhận xét nghệ thuật
-Bức thông điệp của tác giả
Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” chứng tỏ tài năng kiệt xuất của Lưu Quang Vũ trong việc kết hợp kịch bản văn học và kịch bản sân khấu. Đoạn trích cho thấy nghệ thuật tạo dựng và phát triển xung đột kịch, cách giải quyết tình huống và thể hiện tính cách nhân vật sắc sảo của Lưu Quang Vũ. Từ đó gửi đến người đọc bức thông điệp về cuộc sống: cuộc sống và được sống làm người là quí giá thât nhưng được sống làm mình, sống trọn vẹn hòa hợp giữa thể xác và tâm hồn còn quí giá hơn. Con người luôn phải đấu tranh với nghịch cảnh. Đó là triết lí nhân sinh sâu sắc góp phần tạo sức hấp dẫn của tác phẩm, sự tỏa sáng của tác giả

Bài này đã được đăng trong Phân tích Văn học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.