Những nét chính về sự nghiệp văn học của Nam Cao

Những nét chính về sự nghiệp văn học của Nam Cao

Đề bài:

  • Hãy trình bày những nét chính về sự nghiệp văn học của Nam Cao.

Bài làm:

Nam Cao là một tài năng văn học lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông bắt đầu sáng tác từ 1936 và thực sự nổi tiếng với kiệt tác “Chí Phèo” (1941). Chặng đường văn học của Nam Cao trải qua hai chặng trước và sau cách mạng. Đó là bước chuyển mình tất yêu của một tri thức yêu nước, một tài năng nghệ sĩ lớn.

Trước cách mạng, Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc, sáng tạo của ông tập trung vào hai đề tài chủ yếu: Cuộc sống người tri thức tiểu tư sản nghèo và cuộc sống người nông dân. Đề tài tri thức đáng chú ý với những truyện ngắn: Những truyện không muốn viết, Trăng sáng, Mua nhà, Đời thừa,…và tiểu thuyết Sống mòn. Nam Cao miêu tả hết sức chân thật cảnh sống dở chết dở của những nhà văn nghèo, giáo khổ trường tư. Đặc biệt nhà văn đi sâu vào những bi kịch tâm hồn của họ, từ đó Nam Cao phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo, bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người. Đồng thời cũng thể hiện sự đấu tranh bên trong người tri thức tiểu tư sản, vươn lên cuộc sống cao đẹp. Bên cạnh đề tài tri thức, Nam Cao còn viết về người nông dân như các truyện ngắn Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Một bữa no, Tư cách mõ, Lang Rận… Nam Cao viết về những con người hiền lành, nhìn nhục, bị chà đạp phũ phàng; những hạng cố cùng, số phận hẩm hiu. Đặc biệt ông đi sâu vào những trường hợp bị lăng nhục một cách độc ác, bất công. Tuy giọng văn nhiều khi lạnh lùng khách quan, nhưng Nam Cao dứt khoát bênh vực quyền sống và nhân phẩm những con người bất hạnh. Từ những số phận bị lưu manh hóa, nhà văn đã kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và linh hồn người lao động. Ông vẫn phát hiện ra bản chất tốt đẹp lương thiện của họ, ngay cả khi bị vùi dập đến mất hết tính người, tình người. Dù viết về người tri thức hay về người nông dân cùng khổ, Nam Cao luôn day dứt đến đau đớn trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí hủy diệt về nhân phẩm trong cái xã hội phi nhân đạo đương thời.
Sau cách mạng Nam Cao thực sự đã trở thành nhà văn cách mạng. Ông lao vào mọi công tác cách mạng và kháng chiến. Ông tự nguyện làm người cán bộ tuyên truyền vô danh của cách mạng và có ý thức tự rèn luyện mình trong thực tế kháng chiến. Truyện “Đôi mắt” (1948) thực sự là một “nhãn cầu” chứa đựng những thông tin phong phú về đất nước và con người kháng chiến. Ở tác phẩm này nhà văn khẳng định người trí thức đi theo cách mạng dứt khoát phải từ bỏ lối sống cũng, con người cũ, quyết tâm “Cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”. “Nhật kí ở rừng” (1948) trung thực bộc lộ những cảm nhận suy tư về bản thân và cuộc đời. “Chuyện biên giới” (1950) là những sáng tác có giá trị của nền văn xuôi hiện đại lúc bấy giờ.

Nhà văn hi sinh giữa lúc tư tưởng và tài năng đang độ phát triển nhất, hứa hẹn những tác phẩm có tầm vóc. Trong nền văn xuôi hiện đại nước ta, Nam Cao là nhà văn có tài năng xuất sắc. Ngòi bút của ông vừa tỉnh táo sắc lạnh vừa nặng trĩu tình người. Truyện ngắn của Nam Cao hấp dẫn người đọc bởi chiều sâu tâm lí nhân vật. Ngôn ngữ sống động, uyển chuyển gần gũi với lời ăn tiếng nói của giai cấp. Với một tài năng lớn giàu sức sáng tạo, ông đã góp phần vào việc cách tân nền văn xuôi Việt Nam theo hướng hiện đại hóa.

Những nét chính về sự nghiệp văn học của Nam Cao
4 (80%) 1 vote