Phân tích và tìm hiểu chi tiết bài “Nỗi oán của người phòng khuê” trong tập khuê phụ

I. Những tri thức bổ trợ
1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời
Vương Xương Linh (698? – 757), tự là Thiếu Bá, người Kinh Triệu, Trường An (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc). Ông đỗ Tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 15 ( năm 727) và từng giữ nhiều chức quan nhỏ trong triều đình. Khi loạn An Lộc Sơn nổ ra, ông trở về quê, và sau đó bị Thứ sử Hào Châu là Lư Khâu Hiểu giết chết. Ông là một trong những nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường. Ông sáng tác nhiều bài thơ về đề tài biên tái, khúc oán (về cung nữ và phụ nữ) và tống biệt. Thơ ông hiện còn 186 bài trong đó đặc sắc nhất là thơ thất ngôn tuyệt cú (tứ tuyệt).
Nỗi oán của người phòng Khuê không rõ năm sáng tác, là bài thơ thất ngôn tuyệt cú nổi tiếng của Vương Xương Linh, nói lên nỗi li sầu biệt hận của người thiếu phụ khuê các, là tiếng nói phản đối chiến tranh ngay giữa thời Thịnh Đường.
2. Tri thức văn hóa
Về quá trình phát triển, người ta chia thơ Đường thành bốn giai đoạn:
a) Sơ Đường (618-713): Giai đoạn này kéo dài gần một trăm năm đầu đời Đường. Đây là thời kì chuẩn bị, bao gồm cả việc tiếp nhận truyền thống thơ của các thời đại khác với phong vị “phong, tuyết, nguyệt, hoa” kết hợp với việc đổi mới thơ ca với tên tuổi của Trần Tử Ngang. Thơ Sơ Đường có tứ kiệt là Vương Bột, Lạc Tân Vương, Lô Chiếu Lân, Dương Quýnh. Ngoài ra, còn có Thẩm Tống (Thẩm Toàn Kì, Tống Chi Vấn) và Đỗ Thẩm Ngôn (ông nội Đỗ Phủ).
b) Thịnh Đường (713-766): Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ của thơ Đường, cũng là thời đại phong kiến nổi tiếng nhất với các niên hiệu: Khai Nguyên, Thiên Bảo, Đại Lịch. Các nhà thơ Đường nổi tiếng có ảnh hưởng đến các thời đại sau đều gắn với thời kì này như: Vương Xương Linh, Cao Thích, Sầm Tham, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, Trương Kế.
c) Trung Đường (766-827): Thời kì này kéo dài khoảng sáu mươi năm, từ thời Đại Lịch đến Thái Hòa. Đặc điểm của thời kì này là nhà Đường đi vào suy thoái cho dù loạn An – Sử đã được dẹp tan. Tiêu biểu cho thơ ca thời Trung Đường là Bạch Cư Dị, Liễu Tông Nguyên.
d) Văn Đường (827-904): Từ thời Thái Hòa trở đi, nhà Đường suy sụp không cứu vãn được. Các nhà thơ tiêu biểu là Lí Thương Ẩn, Đỗ Mục.
3. Tri thức về thể loại
Bài thơ này được sáng tác trong thời kỳ Thịnh Đường, thời kì nhà đường tiến hành nhiều cuộc chiến tranh mở rộng lãnh thộ. Nhiều tướng lĩnh và binh sĩ được phái ra miền biên ải để trấn giữ biên cương và tiến hành chiến tranh mở đất. Phái thơ biên tái ra đời trong thời kì này với nhiều cách thức phản ánh và nhìn nhận khác nhau về cuộc chiến đó. Vương Xương Linh qua các bài thơ của mình không ủng hộ cuộc chiến đó. Thơ ông là tiếng lòng sầu bi ai oán, là nỗi đau đòi hạnh phúc bình yên, là tiếng nói phản đối chiến tranh.
II. Phân tích tác phẩm
1. Đặc điểm nội dung
Bài thơ kể lại câu chuyện về người thiếu phụ đau khổ khi nhận thức được sai lầm của mình. Bài thơ gắn liền với hiện thực thời đại và là tiếng nói lên án chiến tranh phi nghĩa.
a. Những khái niệm cần chú ý
Trong bài thơ cần chú ý một số khái niệm:
“Khuê trung” tức là phòng khuê, phòng của phụ nữ giàu sang quyền quý ngày xưa, cũng dùng để chỉ phòng ở của phụ nữ nói chung.
“Dương liễu sắc” màu dương liễu. Trong văn hóa Trung Hoa, màu dương liễu được dùng để chỉ mùa xuân và tuổi trẻ, gợi mở ý niệm về hạnh phúc và niềm vui, những cũng được dùng để chỉ sự li biệt, chia tay.
- “Thướng thúy lâu”: bước lên lầu. Trong thơ Đường, đề tài đăng cao cũng là dạng đề tài thường gặp. Lên cao để được nhìn xa hơn, song người ta chỉ lên cao khi có tâm sự, ở đây là nỗi nhớ của người vợ vốn ấp ủ từ lâu trong lòng nay bùng phát, dẫn tới hạnh động bước lên lầu để trông ngóng.
b. Nhân vật: Nhân vật trung tâm của bài thơ là người thiếu phụ có chồng ra trận để lập công danh, để được phong tước hầu, để làm rạng rỡ gia phong. Người vợ cũng góp phần thúc giục chồng tiến thân theo con đường chinh chiến ấy. Tác giả là nhân vật thứ hai, đóng vai trò là người quan sát mọi sắc thái tình cảm của người thiếu phụ ấy.
c. Hình tượng tác giả: Tác giả kể lại câu chuyện về sự chuyển đổi thái độ của người thiếu phụ có chồng ra trận. Cách kể trung thực, không lời bình phẩm, không lời nhận xét, song người đọc vẫn cảm nhận được nỗi đau của người thiếu phụ ấy.
2. Đặc điểm về nghệ thuật
a. Kết cấu của bài thơ
Bài thơ có bốn câu, có thể phân tích lần lượt từng câu một.
Câu thứ nhất là một câu kể:
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,
(Người đàn bà trẻ nơi phòng khuê không biết buồn)
Cách đặt vấn đề có vẻ khác lạ với tiêu đề bài thơ, tạo ra một kiểu phản đề. Người thiếu phụ chẳng biết sầu vì cho rằng chồng ra trận là hợp với thời đại, là đúng tư cách nam nhi và cũng có thể coi là lí tưởng đối với các gia đình quyền quý. Cách suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề của người thiếu phụ có vẻ thụ động, đơn giản một chiều.
Câu thứ hai vẫn tiếp nối mạch kể trên:
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu.
(Ngày xuân trang điểm lộng lẫy, bước lên lầu đẹp)
Người thiếu phụ vẫn tiếp tục công việc hằng ngày của người phụ nữ quý phái, đó là trang điểm phấn son và lên lầu ngắm cảnh. Nỗi nhớ chồng được an ủi bằng chính công việc thường nhật ấy, song mỗi lần lên lầu là một lần nỗi nhớ lại trào dâng. Người thiếu phụ bắt đầu chủ động nghĩ lại hoàn cảnh mà mình đang gặp phải. Đó là sự cô đơn trong cảnh xa chồng, không có người giãi bày tâm sự.
Hai câu thơ kể lại với nhịp điệu bình thường, không vội vã song trong đó đã hàm chứa một sự dồn nén. Các hành vi của người thiếu phụ tưởng như bình thường nhưng trong cái bình thường ấy đã bắt đầu xuất hiện cái không bình thường, xuất hiện sự tỉnh ngộ.
Câu thứ ba:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
(Chợt thấy sắc xuân của cây dương liễu đầu đường)
Câu thơ được mở đầu bằng một bổ ngữ “hốt” đi kèm với động từ “kiến” cho thấy trạng thái thức tỉnh của người thiếu phụ. “Chợt thấy” chỉ ra trạng thái bất ngờ mà người thiếu phụ nhận thức được. Đó là một trạng thái hốt hoảng, không ngờ tới. Người thiếu phụ thấy cây dương liễu chuyển màu. Sự chuyển màu này báo hiệu sự chuyển đổi thời gian, đồng thời cũng nhấn mạnh ý nghĩa về sự chia li biền biệt. Đây cũng là câu kể song trong câu kể đó đã cho thấy sự chuyển đổi trạng thái tinh thần, cho thấy nỗi lòng đau đớn của người thiếu phụ đã được dồn nén lại. Đây là nỗi đau bên trong, nỗi đau ấm ức.
Câu thứ tư, nỗi đau được lộ ra bằng một sự oán thán:
Hối giao phu tế mịch phong hầu.
(Hối hận đã để chồng đi(tòng quân lập công, làm quan) kiếm tước hầu!)
Câu thơ mở đầu bằng động từ “hối”. Hối hận, tức là tự mình phán xử mình, tự mình trách móc mình, tự mình vật vã với chính mình. Lúc đó sự ấm ức trào dâng thành sự thổn thức. Có lẽ chưa bao giờ người thiếu phụ lại cảm thấy đau đớn, hối hận nhiều như vậy khi đã khuyên chồng lập danh bằng đầu quân đi đánh trận. Tại sao chồng đi đánh trận mà lại phải oán, phải tiếc? Hóa ra đây không phải là chiến tranh chính nghĩa mà là chiến tranh phi nghĩa. Nỗi đau của người thiếu phụ là nỗi đau nhận thức được bản chất của cuộc chiến tranh như Đỗ Phủ miêu tả:
“Ngoài biên máu chảy thành biển đỏ,
Mở cõi nhà vua ý chưa bỏ.”
Màu dương liễu không còn là sắc xuân vời vợi nữa mà trở thành màu của biệt lai mãi mãi, vì thế việc trang điểm trở thành việc làm vô nghĩa, bởi người phụ nữ trong bản chất, họ làm đẹp là để cho chồng, giờ đây việc làm đẹp đó không còn người thưởng ngoạn nữa, việc làm đó trở nên vô ích.
b. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của bài thơ là ngôn ngữ của đời đường, không có các điển tích điển cố. Câu chuyện được kể cũng là câu chuyện của đời đường, song nỗi đau là vô tận bởi không chỉ là nỗi đau của một người mà là nỗi đau của thời đại. Khởi đầu là trạng thái vô cảm “bất tri sầu” nhưng khi bắt gặp “dương liễu sắc” thì tâm trạng người thiếu phụ hoàn toàn chuyển đổi, bắt đầu “hốt” chuyển sang “hối” để từ đó cất lên lời oán thán chiến tranh.

Bài này đã được đăng trong Phân tích Văn học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.