Qua việc phân tích, so sánh các bài thơ “Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà, ‘’Vội vàng’’ của Xuân Diệu, hãy làm rõ quá trình hiện đại hóa thơ ca thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945

Qua việc phân tích, so sánh các bài thơ “Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà, ‘’Vội vàng’’ của Xuân Diệu, hãy làm rõ quá trình hiện đại hóa thơ ca thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945

Qua việc phân tích, so sánh các bài thơ “Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà, ‘’Vội vàng’’ của Xuân Diệu, hãy làm rõ quá trình hiện đại hóa thơ ca thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945

Trên mỗi chặng đường dài rộng của lịch sử, mỗi tác phẩm văn học ra đời làm tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống. theo dòng chảy thời gian, văn học dần có những bước tiến mới, những cách tân mới làm giàu them kho tang văn học Việt Nam. Có thể nói, quá trình hiện đại hóa thơ ca thời đầu thế kỉ XX đến đến Cách mạng tháng 8 năm 1945 được thể hiện rõ nhất qua 3 bài thơ “Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà, và ‘’Vội vàng’’ của Xuân Diệu.

Sinh ra không cùng thời và có lẽ bởi thế đến với mỗi thế hệ nhà thơ về sau ta lại bắt gặp những cách tân sáng tạo mới ra đời dựa trên nền tảng thơ ca truyền thống. Vừa kế thừa, vừa phát huy đổi mới cho nền văn học dân tộc.

Ra đời vào năm 1905, đầu thế kỉ XX, bài thơ ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước:

‘’Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’

Câu thơ mở đầu nói đến chí nam nhi, quan niệm nhân sinh phổ biến dưới thời phong kiến. Nam nhi phải lập nên công danh sự nghiệp lớn, lưu danh muôn thủa:

‘’Đã làm trai ở trên trời đất
Phải có danh gì với núi sông’’

Nhưng điểm mới mẻ, táo bạo trong quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu là sự chủ động xoay chuyển thời thế ‘’Há để càn khôn tự chuyển dời’’ và sự tự khẳng định mình đầy khí phách đáng kính trọng:

‘’Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’

Qua đó, nhà thơ thể hiện rõ lẽ sống mới, quan niệm mới về chí làm trai. Tác giả khẳng định mình đồng thời thúc giục mọi người sống có ích cho đời. Đó là một cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm, gánh vác giang sơn.

Và như thế, khát vọng hành động bùng lên trong long trí sĩ với tư thế hiên ngang lên đường:

‘’Non sông đã chết sống them nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài
Muốn vượt biển đông theo cánh gió
Muôn trùng song bạc tiễn ra khơi’’

Ra đời trong lúc giao thời giữa văn học trung đại và văn học hiện đại, bài thơ vừa mang những nét mới: lẽ sống, quan niệm ý thức cá nhân trước thời cuộc…nhưng thể thơ vẫn là thể thơ cũ (thất ngôn bát cú), niêm luật và ngôn ngữ vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.

Nhưng đến với Tản Đà- Gạch nối giữa 2 thế kỉ qua Hầu trời (1921), trong bài thơ ta đã thấy xuất hiện một cái tôi cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình:

Từ cách vào đề, nhà thơ đã hấp dẫn người đọc:

‘’Đêm qua chẳng biết có hay không
Chẳng phải hoảng hốt hay mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên sướng lạ lùng’’

Ông là một con người có cá tính rất ‘’Ngông’’. Ở cõi trần đời, thân phận nhà thơ bị xem thường, văn chương rẻ như bèo, bởi vậy Tản Đà đã tìm đến tận trời để khẳng định tài năng của mình.

Không chỉ có vậy, nhà thơ còn đánh giá cao tài năng văn chương của mình thông qua sự tán thưởng của Trời và các Chư Tiên:

‘’Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa xa, lạnh như tuyết!’’

Mặc dù bài thơ bao trùm là cảm hứng lãng mạn nhưng trong bài cso đoạn Tản Đà đã bộc lộ quan niệm khá hiện đại về nghề văn:

‘’Trần gian thước đất cũng không có‘’

Hay

‘’Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu’’

Lời thơ nghẹn ngào chi tiết chân thực. đó cũng chính là cuộc đời tác giả và cuộc đời bao nhà văn khác.

Và một nét mới không thể không nói tới, nó nằm ngay trên từng trang viết của Tản Đà, đó là cách chia khổ mà ta chưa từng bắt gặp trong thơ trung đại.

Qua bài thơ Hầu trời, tác giả đã mạnh dạn tự biểu hiện cái tôi cá nhân nhưng cái tôi phóng túng ấy vẫn phảng phất tinh thần ‘’ngông’’ của nhà nho tài tử trong thơ ca cuối thời trung đại kiểu Nguyễn Công Trứ hay Tú Xương.

Đến với Hầu trời, bài thơ đã có nhiều nét mới hơn so với ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu nhưng theo dòng luân chuyển của thời gian, bước chân vào xứ thơ trong giai đoạn từ 1932 trở đi, một cuộc ‘’cách mạng trong thơ ca’’ đã làm thay đổi hoàn toàn. Các bài thơ không hề còn dấu vết của thi pháp thơ trung đại nữa.

Có thể nói đặc trưng của thơ mới thể hiện rõ nhất trong thơ Xuân Diệu mà tiêu biểu là ‘’Vội vàng’’.

Qua bài thơ, ta có thể thấy quá trình hiện đại hóa thơ ca được thể hiện rõ trên mọi phương diện. đó là tiếng nói nghệ thuật của cái tôi cá nhân tự giải phóng hoàn toàn ra khỏi hệ thống ước lệ của thơ ca trung đại, trực tiếp quan sát thế giới và lòng mình bằng con mắt của cá nhân. Ngôn ngữ thơ được tổ chức gần với lời nói thường.

Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuooit trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.

Ngay bước dạo đầu, ta đã thấy sự táo bạo trong hành động của Xuân Diệu:

‘’Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc nắng lại
Cho hương đừng bay đi’’

Điệp cấu trúc ‘’Tôi muốn…cho…’’ gợi cảm xúc hối hả, dồn dập, nhà thơ như muốn níu giữ tất cả hương thơm, thanh sắc cho trần gian, cho cuộc đời để tận hưởng. Bằng động từ mạnh ‘’tắt nắng, buộc gió’’, Xuân Diệu đã khao khát hành động và dường như muốn đoạt quyền của tạo hóa. Có lẽ vì yêu thiên nhiên, yêu mùa xuân đến cháy bỏng nên ông mới thể hiện ‘’cái tôi’’ mạnh mẽ đến vậy.

Cũng bởi cuộc sống trần thế tuyệt đẹp, vạn vật căng tràn sức sống tươi mới, đầy xuân sắc mà đượm xuân tình, nhà thơ sao không khỏi thả hồn mình cùng đất trời hòa mình trong hơi thở mùa xuân:

‘’Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hang mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần’’

Vâng, thiên nhiên dâng lên những thức say nồng đầy dư vị hạnh phúc nhưng thời gian qua đi nó sẽ mang mọi thứ lùi vào hư vô rồi tàn lụi.

Trong quan niệm của Xuân Diệu, thời gian tuyến tính mà không tuần hoàn như trong thơ xưa.

Chính vì ý thức được rằng ‘’Xuân không tuần hoàn và tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại’’ nên ông phải sống vội vàng, chạy đua với thời gian để tận hưởng và cống hiến:

‘’Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời’’

Nuối tiếc mùa xuân và tuổi trẻ qua đi, tâm hồn nhà thơ luôn thường trực một mùa xuân:

‘’Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đã đến lâu rồi’’
(Nguyên đán)

Ông hưởng thụ cuộc sống bằng tất cả hồn mình:

‘’Sống toàn tim, toàn trí sống toàn hồn
Sống toàn thân và thức nhọn giác quan’’
(Thanh niên)

Yêu cuộc đời, yêu mùa xuân say mê, cuồng nhiệt đến vậy nên cái tôi trỗi dạy muốn hòa tan vạn vật vào hơi thở của mình:

‘’Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều’’
‘’Cho no nê thanh sắc của trời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi’’

Và lời giục giã trong ‘’Vội vàng’’ dường như đã đánh thức bao trái tim bạn đọc, khiến ta them yêu cuộc đời này biết bao.

Có thể nói mỗi thời đại đều chứa đựng những đề tài hay để các nhà thơ tìm thi hứng dệt nên những khúc ca diệu kì. Và càng về sau, thơ văn càng có nhiều đổi mới, đa dạng về nhiều măt.

Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà ra đời trong độ giao thời, nội dung và cảm xúc có những nét mới nhưng thể thơ, thi pháp cơ bản vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại. nhưng giai đoạn 1930-1945, nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại. và ‘’Vội vàng’’ là một bài thơ như thế. Nó là một trong những tác phẩm tiêu biểu mang đặc trưng của thơ mới về cả cảm xúc và nghệ thuật. không còn cái ta trong thơ trung đại hay cái ngông của Tản Đà mà đã trở thành cái tôi phóng túng, tự do hơn.

Qua việc phân tích, so sánh các bài thơ “Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà, ‘’Vội vàng’’ của Xuân Diệu, hãy làm rõ quá trình hiện đại hóa thơ ca thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945
4.8 (96.67%) 6 votes